Di sản hán nôm Việt nam thư mục đề yếu - Bổ di I Quyển thượng

Tác giả: Đang cập nhật

Giá bán: 117.000đ

Giá bìa: 130.000đ

Tiết kiệm: 13.000đ (-10%)

Số trang: --

  • Miễn phí vận chuyển đối với đơn hàng trên 500.000đ
  • Giao hàng trong vòng 3 ngày trong nội thành Hà Nội
  • Giao hàng ngoại tỉnh trong vòng 3 đến 7 ngày làm việc

Giới thiệu

 Bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ XIX như một phản ứng văn hoá của dân tộc chống lại vòng vây “khai hoá” của ngoại nhân, Hán Nôm học cũng từng bước phát triển trong thế kỷ XX và trở thành một phương tiện học thuật góp phần đưa con người Việt Nam bước vào xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, khi bước vào xã hội hiện đại theo một con đường bị động vì bị hút vào quỹ đạo xâm lược của chủ nghĩa tư bản - thực dân phương Tây, Việt Nam đã chịu nhiều thiệt thòi trong việc kế thừa truyền thống, trong đó, có việc giữ gìn di sản văn hoá truyền thống. Hệ thống tư liệu Hán Nôm không những bị huỷ hoại, mất mát mà còn bị xé lẻ, phân tán ra nhiều quốc gia trên thế giới.
Việc quốc tế hoá ở đây do đó cần được tiến hành theo cả hai chiều: vừa công bố ra thế giới các tài liệu Hán Nôm ở Việt Nam, vừa sưu tầm các tài liệu Hán Nôm Việt Nam trên thế giới để phục vụ việc nghiên cứu. Bộ “Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu” gồm 3 tập hoàn thành năm 1993 đã báo hiệu về một động thái mới rất đáng mừng trong công tác thông tin – tư liệu trên con đường quốc tế hoá theo cả hai chiều này.
Đến năm 2002, nhằm cung cấp và bổ sung thêm những thông tin về số sách do Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn đang lưu trữ nhưng chưa giới thiệu, tập "Bổ di I" nằm trong bộ “Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu” đã được ấn hành.
Tập Bổ di I được chia thành 2 quyển: thượng và hạ. Trong đó, Quyển thượng bao gồm các phần: Thần sắc, Thần tích, Tục lệ (phần đầu). Còn Quyển hạ gồm có Tục lệ (phần cuối), Địa bạ, Cổ chỉ, Xã chí và Phụ lục.
Nội dung của phần Thần sắc là tập hợp những đạo sắc do Nhà nước phong kiến các triều đại. Mỗi đạo sắc thường ghi các yếu tố như: nơi thờ thần (thôn, xã), tên gọi của thần, lý do thần được phong hiệu hoặc nâng cấp, trách nhiệm của thần đối với nhân dân bản địa và nhiệm vụ của nhân dân bản địa đối với thần.
Phần Thần tích bao gồm những sự tích về thần thờ ở các thôn, xã thuộc 22 tỉnh từ Nghệ An trở ra Bắc. Mỗi bản thần tích thường được biên soạn theo một mẫu chung: gốc gác của thần, công lao của thần lúc còn sống cũng như sau khi mất và các danh hiệu được phong tặng… Đặc biệt, có những vị thần nguyên người nước ngoài nhưng được nhân dân ta thờ cúng bởi quan hệ “bang giao”, hoặc vì “nhiều lần tỏ ra linh ứng”.
Tục lệ gồm những bản quy ước của các làng xã thuộc 18 tỉnh từ Nghệ An trở ra Bắc (như lệ, tục, tục lệ, khoán, khoán lệ, ước, khoán ước, đoan…). Mỗi bản quy ước thường mang các yếu tố như: các điều khoản phải tuân thủ, đối tượng thực hiện, ngày lập bản quy ước.
Phần Địa bạ tập hợp những bản kê khai về ruộng đất của các thôn xã thuộc 22 tỉnh từ Nghệ An trở ra Bắc, được thực hiện một phần vào triều Lê và phần lớn là dưới triều Nguyễn, với mục đích làm căn cứ để thu thuế nông nghiệp. Mỗi bản kê khai thường cung cấp những thông tin như: tổng số ruộng đất trong địa phương, số ruộng đất công, số ruộng đất tư, ruộng thần từ Phật tự, thổ trạch viên trì, tha ma gò đống, quan lộ quan đê...
Cổ chỉ là những giấy tờ được viết bằng lối chữ cổ, bao gồm công văn, tài liệu đủ các loại như lệnh chỉ, thượng du, khải, tấu, đinh bạ, điền bạ, thuế khoá, gia phả, sách mo, các khoa cúng, bí quyết tu hành của nhà Phật...
Phần Xã chí sẽ tập hợp các bản điều tra về địa chí một số thôn, xã thuộc 27 tỉnh, từ Khánh Hoà trở ra Bắc. Nội dung điều tra gồm 11 mục: bia, thần sắc, thần tích, cổ chỉ, tục lệ, đình chùa, tượng và đồ thờ, lễ hội, cổ tích, địa đồ, công nghệ và thổ sản.
Đây thực sự là một công trình nghiên cứu rất công phu, chắc chắn nó sẽ phần nào giúp ích cho những ai muốn tìm hiểu, tra cứu về thần sắc, thần tích, tục lệ, địa bạ, cổ chỉ và xã chí Việt Nam.

Thông tin tác giả(dịch giả)

Thông tin tác giả chưa được cập nhật