Về trí thức Nga

Tác giả: Đang cập nhật

Giá bán: 60.000đ

Giá bìa: 75.000đ

Tiết kiệm: 15.000đ (-20%)

Số trang: --

  • Miễn phí vận chuyển đối với đơn hàng trên 500.000đ
  • Giao hàng trong vòng 3 ngày trong nội thành Hà Nội
  • Giao hàng ngoại tỉnh trong vòng 3 đến 7 ngày làm việc

Giới thiệu

Ở nước ta hiện nay, trí thức thường được hiểu là những người có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên. Nhưng thế nào là một trí thức thì hình như chưa bao giờ được cắt nghĩa một cách rõ ràng. Có thể nhiều cá nhân trí thức, nhưng điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội đã cho phép họ tự hình thành một tầng lớp xã hội như là tầng lớp trí thức chưa? Phẩm tính của họ là gì? Vai trò và trách nhiệm của họ trong tiến trình phát triển của dân tộc như thế nào?...

Mỗi câu hỏi trên đây đều đặt ra một vấn đề thảo luận rất nghiêm túc, có ý nghĩa quan trọng đối với việc huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong quá trình đổi mới - hội nhập - phát triển của đất nước. Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra Nghị quyết về vấn đề trí thức đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi ý kiến rộng rãi về chủ đề này. Nhằm cung cấp thêm những thông tin cần thiết để bạn đọc tham gia thảo luận, Nhà xuất bản Tri thức trân trọng giới thiệu cuốn sách: “Về trí thức Nga”.

Đây là tập hợp các bài viết của các học giả - trí thức của nước Nga trước cách mạng tháng 10, của nước Nga thuộc Liên Xô cũ và của nước Nga thời kỳ “hậu Xô viết”. Chính kiến của họ rất đa dạng, có khi đối chọi nhau, nhưng đều trong tinh thần học thuật nghiêm túc và với ý thức trách nhiệm xã hội hết sức đáng trân trọng. Những người dịch và Ban biên tập NXB đã hợp tác để truyền tải trung thành ý tưởng và cách diễn đạt của các tác giả nhằm đưa đến cho bạn đọc bức tranh trung thực về tình cảnh của giới trí thức Nga từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX. Họ viết về chính họ, trong khung cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội của riêng cho nước Nga. Nhưng những trăn trở, dồn nén và phản ứng (tích cực cũng như tiêu cực) của họ trước thời cuộc đáng để chúng ta quan tâm khi soi vào thực trạng tầng lớp sĩ phu - trí thức nước nhà.

Để hiểu thêm bối cảnh hình thành và diễn biến tư tưởng của tầng lớp trí thức (hay “có học”) của nước Nga trong giai đoạn ấy, chúng tôi xin lưu ý bạn đọc lời giới thiệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trọng.

Chúng tôi mong bạn đọc đón nhận tài liệu tham khảo này với tinh thần phê phán khách quan và cầu thị. Xin chân thành cám ơn!

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Trong tay các bạn đọc là tập hợp 12 bài viết về đề tài Trí thức Nga. Thời gian công bố các bài viết ấy trải dài gần một trăm năm, từ những bài trong tập Những cột mốc (Vekhi) công bố năm 1909 cho tới những bài viết thời nay. Nội dung các bài viết là những đánh giá phê phán giới trí thức Nga của chính những người thuộc giới này với tâm thế đau xót tự kiểm điểm (ngoại trừ hai bài viết thời hiện đại của Gary Neill và Tumanov). Vì sao những người dịch lại cho rằng độc giả người Việt quan tâm tới chủ đề này để bỏ công sức ra dịch những bài viết ấy? Tôi nghĩ rằng vì chúng ta có khá nhiều mối liên hệ văn hóa và tư tưởng với nước Nga xa xôi chính cũng vào thời kỳ ấy và vì đề tài trí thức đang là mối quan tâm hiện nay của chúng ta.

Bạn đọc sẽ nhận thấy các tác giả Nga có nhiều cách hiểu khác nhau về danh xưng trí thức. Ivanov-Razumnik và nhất là Likhachev nhấn mạnh phạm trù đạo đức trong định nghĩa trí thức, trong khi các tác giả khác hiểu giới trí thức như một tầng lớp xã hội với một số đặc thù nhất định bao gồm cả tốt và xấu về mặt đạo đức. Tuy nhiên, phần nhiều các tác giả đều thừa nhận có những cách hiểu khác nhau về trí thức. Tôi nghĩ rằng chẳng có mấy bổ ích trong việc đi tìm một định nghĩa chính xác cho khái niệm trí thức để mọi người đều chấp nhận. Nhưng để cho việc thảo luận khỏi rơi vào tình trạng bất xác định thì buộc phải đưa ra một cách hiểu về trí thức Nga, dù tuyệt nhiên không có tham vọng áp đặt cách hiểu ấy cho mọi người. Trí thức Nga được hiểu là một tầng lớp xã hội theo nghĩa một nhóm người tương đối đông về số lượng và có sự liên kết nội tại tương đối mật thiết và thống nhất (giống như một phần định nghĩa của Ivanov-Razumnik). Đặc điểm phân biệt họ với các tầng lớp xã hội khác là họ có học thức nhất định, luôn tự ý thức về sứ mệnh của mình đối với toàn thể cộng đồng (có thể rộng hẹp khác nhau như: giai cấp vô sản, nhân dân Nga hay toàn nhân loại) và có thái độ dấn thân để thực hiện sứ mệnh đem lại tương lai tươi sáng cho cộng đồng. Trong cách hiểu này không bao hàm một đánh giá đạo đức nào cho danh xưng trí thức. Tác động tốt xấu thế nào của trí thức Nga trong mỗi giai đoạn lịch sử, ta hãy để cho hậu thế xem xét. Cách hiểu này thuận tiện cho việc thảo luận về nội dung của các bài viết trong tập sách này vì nó ít xác định hơn nhưng phù hợp với những định nghĩa riêng khác nhau của các tác giả.

Nhiều người cho rằng giới trí thức Nga là một hiện tượng đặc thù của nước Nga, lịch sử của nhiều dân tộc khác không có hiện tượng như thế. Tôi chia sẻ cách hiểu này: nhiều xã hội khác cũng luôn có những cá nhân có các phẩm tính giống như trí thức Nga, nhưng họ thuộc về nhiều giai tầng xã hội khác nhau và không có sự liên kết nội tại mật thiết và thống nhất để hình thành một giai tầng riêng như giới trí thức Nga. Theo sự hiểu biết của tôi thì tính chất đặc thù này gắn với những đặc thù của nước Nga trong tiến trình lịch sử hình thành quốc gia. Hầu hết các tác giả đều thừa nhận tầng lớp trí thức Nga là con đẻ của Pjotr đại đế (1689-1725, hay Pie đại đế theo cách gọi Pháp). Trước triều đại của Pjotr nước Nga còn chìm trong sự chia rẽ và mông muội, phải chống trả với sự xâm lăng thường xuyên của rợ Mông-Thát. Tuy đã tiếp nhận Kitô giáo, nhưng đây là Kitô giáo thuộc nhánh Orthodox phổ biến ở Đông Âu và Hy Lạp, không có nhiều sức mạnh kết nối như các nhánh Catholic hay Tin lành ở phương Tây và bị phụ thuộc nhiều vào các vương quyền. Kitô giáo Orthodox ở nước Nga không có vai trò tích cực nhiều trong quá trình lập quốc như Kitô giáo ở các nước phương Tây. Solzhennitsyn[1] cho rằng Nhà thờ ở Nga "ngay trước khi cách mạng xảy ra đã già nua và phân rã...". Cũng theo Solzhennitsyn thì Nga hoàng Pjotr không hề mong muốn có giới trí thức như nước Nga đã có. Nga hoàng Pjotr chỉ muốn đào tạo một lớp người có kỹ năng làm việc cho bộ máy quan liêu của ông. Nhưng việc nước Nga mở cửa ra châu Âu đã tạo điều kiện cho giới quý tộc Nga tiếp xúc với các tư tưởng và học thuyết khai minh của phương Tây. Nửa đầu thế kỷ XIX toàn bộ trí thức Nga đều là quý tộc hoặc quan chức. Nga hoàng Pjotr đã có công mở mang bờ cõi nước Nga thông ra biển Baltic và biển Caspian, biến nước Nga thành một cường quốc châu Âu. Nhưng ông cũng như các Nga hoàng kế vị đã duy trì đế chế của mình trong một chế độ chuyên chế - nông nô hà khắc với một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp khổng lồ. Nền chính trị chuyên chế ấy tương phản rõ rệt với những lý tưởng nhân văn thời khai minh của phương Tây mà giới trí thức quý tộc Nga chịu ảnh hưởng. Sự xung đột tinh thần là tất yếu, nhưng kịch bản nào phải xảy ra như kết quả của sự xung đột ấy? Nếu có sự thỏa hiệp nào đó dẫn đến việc nới lỏng chế độ chuyên chế cùng với các cải cách xã hội để phù hợp với chiều hướng phát triển kinh tế tư bản đang diễn ra ở nước Nga thì chuyện này ắt sẽ dễ dàng khớp vào được với môn lịch sử duy vật: trí thức quý tộc Nga và Nga hoàng tất nhiên phải thỏa hiệp với nhau vì cùng chung quyền lợi giai cấp. Nhưng thực tế lại xảy ra một kịch bản hoàn toàn ngược lại: các Nga hoàng đáp trả những kiến nghị cải cách của các trí thức quý tộc bằng sự trấn áp khiến cho sự đối đầu ngày càng gia tăng. Cuộc đảo chính bất thành của trí thức quý tộc Nga tháng Chạp năm 1825 đã đi vào lịch sử Nga như một dấu son cho những người tham gia: hậu thế gọi họ là Những người tháng Chạp với lòng tôn kính tinh thần xả thân vì chính nghĩa của họ.

Một mặt, chế độ chuyên chế hà khắc của Nga hoàng trong hoàn cảnh văn hóa mông muội với nhiều tàn tích Mông-Thát đã khiến cho cuộc sống của nông dân-nông nô Nga chiếm số đông trong dân chúng vô cùng bi đát. Mặt khác, kinh tế nước Nga vẫn tiếp tục đi lên theo hướng tư bản, nhất là trong nửa cuối của thế kỷ XIX: các đô thị mọc lên và phát triển, hệ thống đường sắt ngày càng mở rộng, thương nhân làm ăn phát đạt, các địa chủ sống phong lưu... tuy sự phát triển tư bản cũng có nét bệnh hoạn với nền công nghiệp chậm phát triển, giai cấp tư sản công nghiệp chậm ra đời. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự phát triển giáo dục và sự xuất hiện của tầng lớp tiểu tư sản thị dân. Nhiều người trong tầng lớp này và một bộ phận sinh viên các trường đại học cũng nhập vào giới trí thức Nga khiến cho tính chất quý tộc của nó phai nhạt dần. Bất chấp nhiều thành tựu kinh tế, sự xung đột tinh thần giữa trí thức Nga và chính quyền chuyên chế của Nga hoàng vẫn ngày càng gia tăng. Vì sao lại như vậy? Ta có thể hiểu được phần nào tình trạng dị thường này khi xem xét những đặc thù của triều đại Nga hoàng Alexandr II (1818-1881), một nhân vật lịch sử nhận được những đánh giá đầy mâu thuẫn của hậu thế.

Một mặt, trong thời kỳ trị vì của Alexandr II (1855-1881) nước Nga đã có nhiều tiến bộ rất quan trọng về kinh tế và văn hóa: Năm 1861 chế độ nông nô bị bãi bỏ khiến cho khoảng 10 triệu nông nô trở thành người tự do và được cấp một chút ít đất đai. Năm 1864 ban hành đạo luật cải cách pháp luật khiến cho hệ thống tư pháp Nga về nhiều mặt quan trọng có thể so sánh được với hệ thống tư pháp các nước phương Tây. Đạo luật này cũng lập ra các hội đồng địa phương bằng bầu cử (zemstva) với quyền tự trị trong các vấn đề giáo dục, y tế, các nghề thủ công, nông nghiệp... Một số quy định quản lý xã hội mang tính chuyên chế đã được bãi bỏ như bãi bỏ các hạn chế xuất cảnh cho cư dân, bãi bỏ những hình thức trừng phạt mang tính mọi rợ... Số trường đại học gia tăng và năm 1897 nước Nga đã có hơn một trăm ngàn người có trình độ đại học. Alexandr II cũng cải tổ quân đội, cải tiến các trường học quân sự. Nền kinh tế Nga đạt nhiều thành tựu: chiều dài đường sắt tăng từ 965 km lên 22.525 km, quá trình xây dựng đường sắt đã kích thích rất nhiều sự phát triển kinh tế theo chiều hướng tư bản. Các công ty cổ phần, hệ thống ngân hàng phát triển. Xuất khẩu ngũ cốc cũng gia tăng...

Mặt khác, các bằng chứng lịch sử cho thấy Alexandr II không có phẩm chất của một minh quân. Ông bãi bỏ chế độ nông nô chỉ vì hoàn cảnh thúc ép với câu nói: “Tốt hơn là hủy bỏ chế độ nông nô từ bên trên còn hơn là chờ cho đến khi nông nô tự giải phóng mình từ bên dưới.“ Việc bãi bỏ chế độ nông nô trên thực tế không đem lại lợi ích cho nông nô mà chỉ đem lại lợi ích cho các chức sắc nhà nước kiểu như lý trưởng, chánh tổng, là những người có quyền chia ruộng đất và thu thuế. Về quan điểm chính trị thì Alexandr II là kẻ bảo hoàng quyết giữ địa vị thiên tử cho dòng tộc bằng mọi giá, đời sống cá nhân có một số bê bối tình ái không giấu giếm được nên bị giới quý tộc bảo thủ lợi dụng gây thêm sức ép theo hướng phản động chuyên chế. Có lẽ vì vậy mà sự căng thẳng với giới trí thức vẫn gia tăng. Năm 1866 Alexandr II bị mưu sát và chỉ thoát chết trong gang tấc. Cuộc trấn áp dân chúng sau đó đã khởi đầu cho thời kỳ đàn áp dã man các phong trào phản kháng. Nhiều vụ mưu sát Nga hoàng vẫn tiếp tục và năm 1881 Alexandr II bị giết chết trong một vụ đánh bom.

Hoàn cảnh lịch sử đặc thù ấy của nước Nga đã khiến cho diện mạo của giới trí thức Nga có hình thức tư tưởng-chính trị mang tính thù địch và ly khai đối với nhà nước như nhận định của Struve trong tập Những cột mốc[2]. Struve còn cho rằng hình thức ấy là bất biến (cho đến cuộc Cách mạng tháng Mười 1917 - NVT) trong khi nội dung tư tưởng-chính trị thường có thay đổi.

Người Nga thường nhớ tới cuộc khởi nghĩa tháng Chạp 1825 với lòng khâm phục tinh thần bất khuất và những phẩm cách cao thượng của những người tham gia mà ít để ý đến nội dung các yêu sách chính trị của họ. Những người tháng Chạp mơ tưởng một nhà nước có nghị viện theo kiểu phương Tây với sự cai trị pháp quyền hạn chế tính chuyên chế của Nga hoàng. Họ hình dung cách thức thực hiện là áp đặt nền dân chủ từ bên trên theo kiểu mà nước Phổ sau đó sẽ làm.

Sau năm 1825 trong giới trí thức xuất hiện khuynh hướng “giữ gìn bản sắc Slave“ (Slavjanofil) tranh cãi với những người theo khuynh hướng “học tập phương Tây“ (Zapadnik). Những người Slavjanofil khẳng định đúng đắn rằng nước Nga không phải là phương Tây, không thể sao chép cuộc sống của các dân tộc khác mà phải xây dựng cuộc sống của riêng mình, chú ý đến các đặc điểm dân tộc. Tuy nhiên họ lại phủ nhận khả năng khai minh dân chúng Nga theo hướng phương Tây đang thực hiện vì cho rằng trong cơ sở của văn hóa Nga không có con người cá nhân, không có nhân cách riêng mà chỉ có tinh thần tập thể, không có cái “tôi“ mà chỉ có cái “chúng ta“. Nội dung tư tưởng-chính trị của giới trí thức Nga thời kỳ này là chủ nghĩa dân túy do Gersen và Chernyshevski khởi xướng, các tư tưởng gia dân túy nổi tiếng có thể kể đến như Bakunin, Lavrov, Tkachev... Những người trí thức dân túy coi sứ mệnh của họ là phục vụ nhân dân Nga đang thống khổ dưới ách chuyên chế của Nga hoàng. Lúc đầu họ đi về nông thôn để vừa học tập nhân dân vừa giáo dục nhân dân. Về sau các hoạt động của họ chuyển sang hướng kích động nông dân nổi dậy bạo loạn vũ trang. Tư tưởng cao đẹp phục vụ nhân dân bị những người dân túy đẩy xa tới mức thành sùng bái nhân dân. Novgorodsev đã nhận xét rằng những người dân túy xem “nhân dân lúc nào cũng sẵn sàng, cũng trưởng thành và toàn thiện toàn mỹ, rằng chỉ cần phá bỏ trật tự nhà nước cũ là ngay lập tức nhân dân có thể thực hiện được những cuộc cải cách căn bản nhất, có thể thực hiện được sự nghiệp xây dựng vĩ đại nhất.“[3] Đến khi chủ nghĩa Marx du nhập vào nước Nga thì giới trí thức lại chuyển sang say mê chủ nghĩa xã hội và sùng bái giai cấp vô sản theo một cung cách tương tự như với chủ nghĩa dân túy. Như vậy nội dung tư tưởng-chính trị của giới trí thức Nga sau năm 1825 là xoay quanh chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa xã hội.

Ta có thể thấy động cơ đầy cao đẹp của giới trí thức Nga trong việc nhận lãnh sứ mệnh tiêu diệt chế độ chuyên chế Nga hoàng nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp công bằng cho nhân dân Nga. Những người phê phán giới trí thức Nga trong tập sách này cũng không phủ nhận điều đó, nhưng Berdaev cho rằng “không thể nào tự hoàn thiện được nếu cứ tiếp tục tự say mê những tính chất vĩ đại của mình“ nên cần phải “thực hiện tự phê bình, sám hối và tìm ra bằng được các căn bệnh.“[4]

Trong bài viết mà tôi vừa trích dẫn ở trên Berdaev đã vạch ra những căn bệnh về nhận thức của giới trí thức Nga: say mê lý tưởng xã hội chủ nghĩa và biến lý tưởng ấy thành tín điều của mình, chỉ tiếp nhận tri thức mới khi cho rằng tri thức mới biện minh cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa của họ, đôi khi cố đạt điều này bằng cách bóp méo học thuyết mới, đồng thời cũng bác bỏ mọi học thuyết mà họ cho là cản trở cho lý tưởng ấy. Berdaev đã chỉ ra những sai lầm cụ thể của giới trí thức trong nhận thức triết học và kết luận rằng: "Giới trí thức Nga do hoàn cảnh lịch sử của nó đã gặp phải nỗi bất hạnh sau: tình yêu công bằng mang tính cào bằng, tình yêu điều thiện, tình yêu hạnh phúc cho nhân dân đã làm tê liệt tình yêu chân lý, gần như giết chết sự quan tâm đến chân lý."[5]

Một tác giả khác của tập Những cột mốc là Kistiakovski với bài viết được dịch ở tập sách này (Trí thức và nhận thức pháp quyền). Kistiakovski đã chỉ ra sự thiếu vắng nhận thức pháp quyền trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội của giới trí thức Nga. Ông nhận xét về nguyên nhân của hiện tượng đó như sau: “Sự yếu kém trong nhận thức pháp quyền của giới trí thức Nga và sự thờ ơ đối với các tư tưởng pháp quyền là kết quả của thói xấu thâm căn cố đế: không hề có bất kỳ trật tự luật pháp nào trong đời sống thường nhật của người Nga. Nhân việc này, Gersen[6] ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX - ND) đã viết: “Thiếu sự bảo đảm về pháp lý từ bao đời nay đã đè nặng lên đời sống của người dân và trở thành một kiểu trường học cho chính họ. Sự bất công quá đáng của một nửa điều luật đã dạy dân chúng căm thù nửa còn lại; người ta phục tùng nó như phục tùng sức mạnh vậy thôi. Sự bất bình đẳng trước pháp luật đã giết chết tinh thần tôn trọng pháp luật. Người Nga, dù có chức tước gì đi chăng nữa, cũng tìm cách tránh né hoặc vi phạm pháp luật nếu có thể làm như thế mà không bị trừng phạt; chính phủ cũng hành động hệt như vậy.“”[7] Kistiakovski lấy làm lạ là sau khi nhận xét như vậy thì Gersen lại cho rằng điều này là lợi thế để xây dựng xã hội mới. Vấn đề nằm ở chỗ giới trí thức Nga có xu hướng muốn xây dựng các hình thức quan hệ xã hội phức tạp thuần túy dựa trên các nguyên tắc đạo đức.

Thế nhưng quan niệm về đạo đức của giới trí thức Nga cũng mang dấu ấn của căn bệnh cuồng si một-đối-tượng-duy-nhất (monomania) mà Berdaev đã vạch ra trong bài viết trên: chỉ có thái độ dấn thân chống chế độ chuyên chế nhằm xây dựng xã hội chủ nghĩa mới được họ coi là đạo đức mà thôi. Những nhà khoa học dấn thân cho chuyên môn, những người quá đi sâu vào việc nghiên cứu các học thuyết đều bị họ khinh miệt là ích kỷ và không được coi như người cùng giới. Thậm chí các nhà văn lớn của Nga được cả thế giới ngưỡng mộ như Gogol, Lev Tolstoi và Dostoievski cũng bị họ gạt ra ngoài theo tiêu chuẩn ấy, Dostoievski còn bị họ nhiều lần kết tội phản động. Một tác giả khác của tập Những cột mốc là Gershenson đã nhận xét như sau: “Không ở đâu trên thế giới mà dư luận xã hội lại ngự trị độc đoán như ở ta, mà dư luận xã hội của chúng ta đã ba phần tư thế kỷ nay vẫn giữ nguyên không đổi dựa trên sự thừa nhận nguyên tắc tối cao này: nghĩ về cá nhân mình là ích kỷ, vô liêm sỉ; chỉ có con người suy nghĩ về xã hội, quan tâm những vấn đề xã hội, làm việc cho lợi ích chung thì mới là con người chân chính.“ Tiếp đó ông viết: "Hoặc là chúng ta thực s hướng toàn bộ công việc của ý thức thoát hẳn ra khỏi bản thân mình, tới thế giới bên ngoài, hoặc là chúng ta làm ra vẻ hướng nó ra đó, - ít nhất thì cũng không hướng vào bên trong, và tất cả chúng ta trở thành những phế nhâ

Thông tin tác giả(dịch giả)

Thông tin tác giả chưa được cập nhật

Sách cùng thể loại